new picture 6

 

banniere-donation
flechebas

Đóng góp trực tuyến

Xin phụ KMF giúp những người không được may mắn. Xin chân thành cám ơn

số tiền

Đang trực tuyến

Đang có 204 khách và không thành viên đang online

■ ■ ■ Chúa Giêsu nói: "Điều gì các con làm cho một người bé nhỏ nhất trong các anh em của Ta đây là các con đã làm cho chính Ta" (Mt 25: 40) ■ ■ ■

 

ĐỨC CHA PAUL SEITZ: VỊ THỪA SAI CAN TRƯỜNG

 

ĐỨC CHA PAUL SEITZ, GIÁM MỤC KONTUM (VIETNAM) 1906-1984

 

VỊ THỪA SAI CAN TRƯỜNG

**********

Tác giả: Dom Jean-Louis de Robien

 

Chuyển ngữ: Một nhóm cựu chủng sinh Kontum (CVK)

*********

LỜI TỰA

 

Nhân dịp kỷ niệm 30 năm Đức Cha Paul Seitz qua đời, Cha đã muốn biên soạn tác phẩm về cuộc đời của người anh em Hội Thừa Sai Paris đã rời bỏ chúng tôi năm 1984. Cha đã làm công việc này thật tỉ mỉ, như một tu sĩ dòng Biển Đức chính hiệu, vì lòng trung thành và tình bạn đối với người Thượng vùng Cao Nguyên. Xin chân thành cám ơn Cha!

Từ gốc gác vùng Alsace và biển đảo, Đức Cha Seitz duy trì được sở thích tha phương viễn xứ, mạo hiểm và khám phá những cảnh quan khác lạ với quê hương mình. Thời gian đi quân dịch bên Maroc sẽ ghi đậm dấu vết và để lại ấn tượng mạnh nơi cha.

Ngài khám phá ra vẻ đẹp của một nền văn hóa khác, một ngôn ngữ khác, cũng như các cảnh sa mạc xinh đẹp tuyệt vời. Các vùng đất mênh mông tắm mình trong thinh lặng và ánh sáng đã củng cố mạnh mẽ hơn nơi cha tiếng gọi của Thiên Chúa. Ngài là một người say mê sa mạc, giống như cha Charles de Foucauld. Đối với ngài, việc yêu thích điều mới lạ đi đôi với sự gắn bó với nước Pháp, quê mẹ. Vào năm 1870 để trốn người Phổ, tổ tiên ngài đã lựa chọn nước Pháp, và bỏ hết mọi sự - ruộng vườn, công ăn việc làm và an ninh – để bắt đầu lại cuộc sống trong vùng Normandie. Danh dự và lòng trung thành đã ăn sâu vào tâm khảmcủa vị thừa sai này. Cũng như thánh Phaolô, ngài biết đặt để sự kiêu hãnh nơi các yếu đuối của mình, nhất là sức khỏe mong manh lúc còn là chủng sinh khiến cho ngài phải vào nhà thương và chậm trễ việc học hành. Sau cùng, năm 1937 ngài đến Việt Nam, và sau khi mau chóng học tiếng Việt, ngài trở thành cha phó nhà thờ chính tòa Hà Nội.

Trong thời gian rối loạn này, tức năm 1940 và những năm kế tiếp người ta chứng kiến cảnh nhục nhã nước Pháp bị quân Đức chiếm đóng, nhưng vùng Đông Dương cũng đã không được tha. Âu lo cho số phận của giới trẻ, cha Seitz đã tổ chức trại thanh thiếu niên Đức Bà Ba Vì, nơi các trẻ em cả Pháp lẫn Việt tụ họp sinh hoạt trong mùa hè để lấy lại sức khỏe thể lý và tinh thần. Ngài cũng đã thành lập “Trung tâm tiếp đón trẻ em bị bỏ rơi, Trại mồ côi Thánh Têrêxa” để kéo các em ra khỏi cuộc sống lang thang trên đường phố và khỏi các hiểm nguy của thành thị lớn, nơi các em bị bỏ rơi không ai chăm sóc, vì hoàn cảnh sống bấp bênh và nghèo túng của gia đình. Năm 1943, chỉ có tất cả 80 em, nhưng chẳng mấy chốc con số lên đến 450 em và các em đã phải dọn nhà nhiều lần vì chiến tranh. Chính sứ mệnh làm nên vị thừa sai, ai cũng biết vậy, và thế là Cha Seitz trở thành “Ông Vinh Sơn” Hà Nội! 

Năm 1952 ghi dấu một khúc rẽ trong cuộc đời truyền giáo của ngài: cha được chỉ định làm Giám Mục Kontum, và thực sự biết tới cảnh quan xa lạ hoàn toàn. Đồng bằng Bắc Bộ không thể so sánh với sự bao la của vùng Tây Nguyên: vùng đại diện tông tòa của ngài bao trùm một diện tích rộng tới 70.000 cây số vuông! Đức Cha nhận xét như sau:

Tại đây các bộ lạc nhỏ gốc mã lai - polynesi sống trong một tình trạng rất sơ khai: đó là những người Mọi hay Thượng. Các phong tục và thổ ngữ của họ giống các phong tục và thổ ngữ của các bộ tộc các đảo Polynésie, Bornéo hay Nouvelles - Hébrides.

Đức Cha khám phá ra một dân tộc, một nền văn hóa và các ngôn ngữ hoàn toàn khác với tiếng Việt. Một cách rất mau chóng, vị Giám quản tông tòa gắn bó với các dân tộc, các chủng tộc thiểu số này, và đo lường các thách đố cần khắc phục: đó là làm tất cả mọi sự để cho các chủng tộc này không bị đè bẹp bởi nền văn hóa thống trị. Chỉ trong vòng vài năm Đức Cha đã tăng số các trường học nơi vùng sâu vùng xa và quy tụ tới 50.000 học sinh! Nhiều cơ sở chào đời: các trường gia chánh, các trường trung học được giao cho các nữ tu dòng Thánh Vincent-de-Paul và Saint-Paul-de-Chartres điều hành; rồi đến các vườn trẻ và cả một ký túc xá đại học cho các sinh viên Thượng ở Sài Gòn! Đức Cha đào tạo các giáo lý viên, các giáo chức và y tá người Thượng. Nhà in của giáo phận ấn hành các sách giáo khoa, sách đạo, sách giáo dục, kinh thánh bằng thổ ngữ vùng Kontum; và hàng tháng phát hành một nguyệt san nhỏ bằng tiếng Bahnar là tờ Hla-bar Tobang!

Các lo lắng của Đức Cha cho giáo phận đem lại hoa trái. Từ 20 chú, con số chủng sinh của tiểu chủng viện đã vượt lên tới 300. Dòng các nữ tu Bahnar chào đời. Tất cả các nỗ lực này của Vị Đại Diện Tông Tòa, các anh em Hội Thừa Sai Paris, các nữ tu, hàng trăm cộng sự viên mà giáo phận đã tiếp nhận và của mọi nhân lực truyền giáo, đã được thực hiện trong bầu khí chiến tranh, đầy bất trắc và nguy hiểm. Vị chủ chăn giáo phận đã nêu gương sáng và giữ vững tinh thần. Năm 1972 ngài tuyên bố: “Có những trường hợp trong đó sự thận trọng là mẹ đẻ của mọi tật xấu”

Trở về Pháp sau khi bị trục xuất năm 1975, Đức Cha Seitz vẫn trung thành với ơn gọi linh mục và thừa sai của mình, bằng cách đồng hành với các kitô hữu Thượng tỵ nạn tại đây. Giai đoạn cuối cùng này đã không phải là giai đoạn tươi vui nhất của cuộc đời ngài. Đức Cha thuộc thế hệ đã lớn lên trong một nước Pháp vĩ đại, nhìn xa thấy rộng, một thế hệ ngỡ ngàng trước những thay đổi dồn dập nhằm thiết lập một trật tự quốc tế mới, tuy vẫn còndang dở. Như tướng Jean de Lattre de Tassigny, một người bạn cũ của ngài, Đức Cha là một vĩ nhân của nước Pháp, ngài cũng là một người tôi tớ vĩ đại phục vụ Giáo Hội. Hoa trái đẹp nhất trong công tác tông đồ của ngài là lòng trung thành của các kitô hữu vùng Cao Nguyên với Chúa Kitô, mặc dù họ là đối tượng của các cuộc bách hại tàn khốc. Chúng ta có thể trông thấy lòng trung thành và sức sống này của Giáo Hội ba mươi năm sau khi Thiên Chúa gọi về với Người vị giám mục thừa sai can trường đã từng là Chủ Chăn của họ từ năm 1952 tới năm 1975.

“Ly Cha, những kẻ Cha đã ban cho con, con muốn rằng con ở đâu thì họ cũng ở đó với con, để họ chiêm ngắm vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu con trước khi tạo dựng thế giới” (Jn 17,24)

 

T.R.P Georges Colomb

Bề trên tổng quyền Hội Thừa Sai Paris - MEP 

********************* 

CHƯƠNG I 

NGUỒN GỐC GIA ĐÌNH

L’Alsace

“Seitz”: cái tên gọi nghe kêu như một cú roi quất!. Xuất xứ từ đâu, nếu không phải là vùng Alsace xưa, và từ thị trấn nhỏ xinh xinh tên Thann, thuộc vùng Haut Rhin.

Thann, cách Mulhouse năm dặm, nằm trên sườn núi Vosges, và dưới chân ngọn núi Ballon d’Alsace, cao 1250m, tạo dấu ấn riêng cho vùng, nơi còn lưu giữ phế tích đồn lũy của những pháo đài đổ nát, các nhà thờ, các nhà ở đặc thù vùng Alsace[1], và đặc biệt với thánh đường học viện Saint-Thiebaut, với cái chóp hình mũi tên bằng đá từ thế kỷ XIII: đây cũng là nơi lưu giữ thánh tích nổi tiếng của vị thánh gốc thành phố nầy từ năm 1161.

Từ thế kỷ thứ XVI, trong ngôi Thánh đường nầy các thế hệ họ Seitz đã được rửa tội. Lùi sâu về Lịch sử, giòng họ Seitz có gốc Đức, gần Ulm, thuộc tỉnh Bade-Wurtemberg, bên kia sông Rhin. Tên giòng họ bắt nguồn từ tên Sigizo, biến thành Siegfried và Seitz.

Thann là một thành phố giao lưu ngã ba đường, đã trải qua thời kỳ vinh quang phồn thịnh, buôn bán sầm uất, từng tổ chức nhiều đêm dạ tiệc vương giả, nhiều ngày lễ nhộn nhịp, nhưng cũng chịu nhiều tàn phá khủng khiếp bởi những cuộc xâm lăng đến từ phương Bắc, phương Tây hoặc phương Đông, huỷ hoại hoa màu, vườn nho và cả nhà cửa của họ; đã có những sự việc độc ác xảy ra, tuy cũng có những hành động can đảm tuyệt vời. Đây là một thành phố mà đức tin đã giúp củng cố, xây dựng nên một cộng đoàn Kito hữu chắc chắn và bền vững. Chẳng phải đây là lò đào luyện nên một nhà truyền giáo tương lai sao?

Năm 1780, quân Phổ đánh bại quân Napoleon III. Hiệp ước Frankfort năm1871 tách rời Alsace và những trái tim của người dân  khỏi nước Pháp. Sự “Tự do lựa chọn cho vận mạng của họ ”  không thể có dưới gót giày quân xâm lược Đức.

Vì lý do đó, và đây là điều làm cho chúng ta hiểu rõ hơn về cư dân vùng Thann và về gia đình Seitz – những người dân Alsace, sau khi họ đã chiến đấu hết mình để đẩy lùi quân xâm lược, nay họ bị bắt buộc cách này hay cách khác phải lựa chọn, hoặc trở thành người Đức, hoặc di cư sang phía bên kia dãy Vosges. Đó là một thảm kịch của những người công dân mà con tim họ, từ nhiều thế hệ, luôn thuộc về Pháp, nay buộc  phải lựa chọn một trong hai giải pháp: thay đổi quốc tịch hoặc ly hương?!

Thật đau lòng khi phải bỏ lại tất cả sau lưng! Bà con giòng họ, những người cộng tác làm ăn và công nhân trong các xí nghiệp, bạn bè, họ đạo mà chẳng bao lâu nữa phải đối đầu với các nhà thờ tin lành, điều hành bởi các mục sư Luther, đến từ phía Đông. Chưa nói đến cảnh thanh bình, lãng mạn, bao nhiêu sự giàu sang và đất đai phì nhiêu xanh tươi của thị xã Thann, với những vườn nho cho rượu ngon thoai thoải từ triền đồi kéo dài đến tận đồng bằng, rồi đến những hàng thông phủ một màu xanh đen từ chân núi leo tới đỉnh ngọn Vosges.

Với cư dân mang tính tình mạnh mẽ vùng Alsace và Lorraine nầy, không một người nào đã không bị đối diện với tình huống tiến thoái lưỡng nan này, vì đây là một vấn đề về tương lai mỗi cá nhân họ và con cháu họ. Rõ ràng đây là vấn đề về danh dự, về lòng trung thành và về tình yêu

Còn các linh mục thì sao? Nói chung họ được giáo dân quý trọng và thương mến. Vì trách nhiệm mục vụ với các tín hữu ở lại và vì  lo sợ giáo phái Tin lành Luther sẽ chiếm giáo xứ, lấy nhà thờ, nên các ngài quyết định bám trụ ở lại, với bất cứ gía nào. Mục tử không bỏ rơi đàn chiên khốn khổ của mình.

Qua bối cảnh nầy, người ta cũng phảng phất thoáng thấy trong đó bóng giáng số phận dân tộc Việt Nam và Giám mục Kontum cũng như các vị Thừa sai phải gánh chịu, đúng một thế kỷ sau.

Hơn 200.000 người Alsace và Lorainne chọn giải pháp giữ Quốc tịch Pháp, trong số đó có Edouard Seitz, sinh ra và rửa tội ở Thann năm 1835, cùng em trai Francois nhỏ hơn mình 1 tuổi. Lòng trung thành, sự dũng cảm, tình yêu tổ quốc chiếm ưu thế hơn là lợi ích vật chất. Thế hệ của gia đình họ Seitz chọn giải pháp bỏ lại hết sau lưng, mà không thèm ngoái nhìn lại: xưởng sản xuất bia, xưởng dệt, những gia tài được thừa hưởng từ cha mẹ, từ ông nội, còn hơn là chịu đựng ách thống trị của nước Đức. Phải là những tâm hồn mạnh mẽ để sống còn và xây dựng lại cuộc sống. Tuổi trẻ giòng dõi Seitz là những người như thế. Nước Pháp thất trận, những kẻ chiến thắng thôn tính thành phố của họ đã giống như ngọn roi quất trên lưng, làm họ phải đứng thẳng lên.

Sau một thế kỷ và sau hai cuộc chiến tranh thế giới, hòa bình và hòa hợp đã trở lại: Liên minh Châu Âu đã công nhận thỏa thuận tình hữu nghị giữa hai nước Pháp và Đức, đem lại tình yêu thương giữa các dân tộc. Cùng một lúc, đầu bên kia thế giới, một người tên Seitz và cả gia đình thiêng liêng của Ngài bị đuổi ra khỏi quê hương thứ hai của họ. Rồi Ngài cũng sẽ biết cách trỗi dậy.

Năm 1871, Francois, sau khi kết hôn với Marie-Louise Beltzer được 5 năm, dọn về cư ngụ ở thị trấn Saint-Dié gần đó (khoảng 76 km phía bắc Thann. ND), rồi di chuyển về vùng Tây Nam nước Pháp và định cư tại Biarritz. 

Còn Edouard, vẫn độc thân, lần mò đến Paris tìm việc làm. Ở đó anh đã gặp cô gái đồng hương, Marie-Anne Nitter, cũng sanh tại Thann năm 1847, người mà ông kết hôn vào ngày 20 tháng 02 năm 1873. Kết quả của tình yêu, vợ ông hạ sanh một Edouard Seitz khác tháng 7 năm 1874, thành viên đầu tiên trong gia đình không được chào đời tại quê cha, đất tổ, nay đã thuộc về Đức. Rồi năm anh chị em nữa tiếp theo sau.

Sau đó không lâu, gia đình đến định cư tại Le Havre. Cuộc sống trôi qua giản dị, mộc mạc, bé trai Edouard, mới 11 tuổi đã theo học nghề hớt tóc, nghề mà em thích. Vài năm sau, với tham vọng tự lập thân và mong tìm kiếm tiếng tăm cho riêng mình, cậu lên Paris tầm sư học nghề nơi những tiệm cắt tóc nổi tiếng. Chính trước cửa căn phòng thuê đơn sơ xoàng xỉnh mà chàng đã gặp mặt cô nàng hàng xóm. Chỉ sau ít câu xã giao và vài nụ cười đồng loã, Lyna Dufau đã tiết lộ ít tâm sự về đời tư của mình. Và tiếng sét ái tình đã đến.

La Guadeloupe

Cô gái trẻ tuổi này, người sẽ trở thành mẹ của Paul Seitz là ai? Cô không phải là một người di dân từ Alsace, mà là một cô gái Créole từ Guadeloupe, một hòn đảo thuộc vùng biển Caribé, phía bên kia Đại Tây Dương. Lạ thay, cũng chính dưới triều đại vua Louis XIV mà Alsace được tái sát nhập vào nước Pháp và cùng thời đó Pháp đổ bộ lên Guadeloupe. Nhưng nếu phải chống chọi với người Đức để lấy lại Alsace thì cũng phải đánh nhau với người Anh để giữ các vùng đã chiếm được bên kia bờ Đại Tây Dương. Thực dân Pháp nhanh chóng đến đây lập nghiệp, trong số đó có gia đình Bouscaren và Bourlet. Họ trở thành điền chủ khai thác vùng Point-à-Pitre, và Gour-Beyre, gần Basse-Terre, thủ đô Guadeloupe.

Lydie Bourlet, sinh năm 1824, kết hôn với Alexandre Dufau, chủ một đồn điền rộng đến hàng 100 hectares, có tên là Grand’Maison, tại Trois-Rivières, không xa Gour-Beyre. Con trai đầu lòng, sinh năm 1850, đang theo học xuất sắc ở Paris, chuẩn bị vô đại học Polytechnique (bách khoa-ND) thì được cha gọi về Guadeloupe  để quản lý đồn điền gia đình, Grand’Maison. Cuộc sống thanh bình trong xứ sở như một cõi thiên đường này, giữa những đồng mía đường màu mỡ giúp sản xuất ra một loại rhum ngon nhất thế giới, những đồn điền café, vani, chuối và vô vàn giống cây ăn trái khác. Mưa thuận, gió hòa, chỉ cần đưa tay ra đón nhận hoa trái Trời ban.    

Cuộc sống nhàn hạ, suốt ngày đi thăm từ nông trại nầy qua đồn điền khác, và sau những lần du ngoạn bằng ngựa, hay những buổi bơi lội, tắm táp về, những người giúp việc da đen phục vụ vô vàn rượu cocktail Punch hoặc những thức uống tươi mát khác. Phải chăng cõi thiên đàng của cha ông chúng ta đã thật sự hiện diện ở vùng Antilles nầy ? (Antilles: các quần đảo thuộc biển Caribé-ND).

Mối nguy hiểm duy nhất có thể đến từ một ngọn núi lửa sừng sững cao1484m, điểm cao nhất Guadeloupe, và cũng đã trở nên khét tiếng: đó là ngọn núi Soufriere. Nhưng lúc nầy thì nó vẫn nằm yên và bọn trẻ hay dọa nhau bằng cách chỉ tay lên núi.

Không gì hạnh phúc bằng Leo, lúc 22 tuổi, gặp lại người em họ, Maria Conchita, 18 tuổi, ở đồn điền bên cạnh gần Gourbeyere. Dưới tiết trời nhiệt đới, ngọn lửa tình yêu nhanh chóng bùng phát, và hôn lễ giữa Leo Dufau và Maria Conchita được tổ chức vui vẻ vào năm 1875.

Kết quả sự kết hôn nầy là bảy cô con gái ra đời, trong đó Lina, bà Edouard Seitz tương lai, sinh ngày 30 tháng 12 năm 1878, là người thứ ba. Mấy chị em có một tuổi thơ vô tư, hạnh phúc tại nông trại Grand’Maison, dưới mái nhà trệt bằng gỗ rộng lớn mộc mạc dân dã, được bao quanh bởi một hành lang rộng, giúp che ánh nắng mặt trời chói chang và tránh mưa hắt lúc giông về.

Vào tuổi thiếu niên, ba cô gái đầu của “thuộc địa” được gởi qua Pháp hoàn thiện kiến thức về học vấn nơi mẫu quốc; rồi các nàng trở về, với “mảnh bằng trung học”, tắm nắng mặt trời đảo Emeraude, đọc sách, may vá, chơi nhạc, cỡi ngựa, tham gia những buổi chiêu đãi nơi quan tổng đốc, hoặc nơi các “thân hào nhân sĩ” của thủ phủ bên cạnh. Rồi đến lượt các em kế của họ lại trở về mẫu quốc.

Than ôi! Tất cả người em kế nầy không bao giờ thấy lại hòn đảo, nơi chôn nhau cắt rốn một lần nữa! Vì cuối năm 1898, đúng là một thảm họa! Một cơn bão dữ dội càn quét các hòn đảo vùng Antilles, tàn phá mọi thứ trên đường đi. Gió, bão nhổ sạch các đồn điền,làm nhà cửa, cây cối bay tứ tung; những dòng suối tràn bùn lấp kín đồng ruộng, chôn vùi mọi hoa màu. Một thảm họa chưa từng thấy trong đời. Điều may mắn là trong gia đình không ai bị thiệt mạng, nhưng khi Léo Dufu và các con ông thoát ra từ nơi lánh nạn, họ suy sụp chứng kiến cảnh tượng trước mắt. Thành quả lao động cực nhọc của nhiều thế hệ thuộc địa chẳng còn lại gì. Hoàn toàn mất trắng.

Thời kỳ đó không có bảo hiểm thiên tai, không một đồng bảo trợ để phục hồi một đơn vị sản xuất. Và rồi tất cả tá điền, đa phần là da đen hoặc dân lai, đều phải nghỉ việc, vì không còn khả năng trả lương: họ có nổi loạn không, như người ta đã chứng kiến những lần trước kia, nơi cha ông họ? Ông bà Léo Dufau quyết định gởi 3 con gái lớn về mẫu quốc để lánh nạn và làm lại cuộc đời. Ở lại Guadeloupe chẳng có việc gì làm, vì đã bị phá sạch, cũng chẳng lấy được chồng, do không còn gì để làm của hồi môn. Chính ông bà cũng phải đến Gourbeyre, ở nhờ nhà bà ngoại Bourlet, được biết đến với cái tên “Maman-Bonne”.

Thật là một thử thách, cho cả những người ở lại cũng như kẻ ra đi! Chị cả Lydie, chỉ mới 22 tuổi, quađời ở tuổi 25, sau khi bị cảm thương hàn; Marthe 21 tuổi; Lyna 20. Đây là thời kỳ “vàng son” ở Pháp, nhưng gia đình Dufau chỉ gặp toàn đau buồn, tang chế liên tục và nhiều gian nan phải vượt qua.

Đỉnh điểm gian nan là khi ngọn núi lửa La Soufiere thức dậy dữ dội năm 1902, phun dung nham, tràn xuống sườn núi, tàn phá Guadeloupe, đốt cháy nhà cửa, giết chết súc vật và con người, trong khi hòn đảo bên cạnh là Martinique bốc cháy dưới “đám mây lửa” từ ngọn núi Montagne Pelée, xóa sổ hoàn toàn đế đô thuộc địa Saint-Pierre; trong chốc lát, 30 ngàn cư dân bị chôn vùi dưới đống tro tàn. Đó là ngày 8 tháng 5, ngày Lễ Thăng Thiên.

Dầu vậy, tính tình lạc quan vui vẻ của Lina sẽ giúp cô vượt qua nhiều khó khăn. Về sau, Annette, con gái bà, nói về mẹ như sau: mẹ “đầy tinh thần minh mẫn sáng suốt, bà có một lòng tin tưởng sâu xa vào quyền năng siêu nhiên của Thiên Chúa”. Mẹ cũng say mê âm nhạc, thơ ca, thích tham gia các lễ hội, chia sẻ cuộc vui”. Điều này giúp cô vượt qua những tàn phá của thiên nhiên làm hại gia đình mình, và cũng giúp được các chị em khác, trong đó 3 đứa em còn theo học tại Bezons, vùng Oise. Cô tìm được việc làm là thư ký, kế toán, đứng bán trong cửa hàng trang phục đồ lót phụ nữ: không hẳn là một việc làm thoả mãn và thích thú, nhưng nó giúp cô có cuộc sống độc lập, và đủ khả năng thuê một phòng trọ nhỏ ở đường Turbigo, thuộc quận II.

Đấng Quan Phòng thấu hiểu việc cô làm, vì vậy cho nên cô gái trẻ đẹp Créole nầy, sinh ra ở Trois-Croivières, cách đây hàng ngàn cây sổ, là hậu duệ gia đình hoàn toàn gốc Guadeloupe, gặp người hàng xóm gần phòng, chàng trẻ tuổi Edouard Seitz, rặc gốc Alsacien.

Lina Dufau trở thành bà Edouard Seitz vào ngày 12 tháng 1 năm 1903, nhưng đám cưới họ ở Paris không có nhiều thân nhân của hai gia đình tham dự, cũng vì mẹ chú rể mới mất trước đó.

Ai biết trước được sự xa nhà xa xứ  mà cha mẹ cậu phải chịu sẽ ảnh hưởng thầm kín ra sao đến ơn gọi truyền giáo của người con trai tên Paul, người sẽ tình nguyện sang vùng Viễn Đông. 

[1] Nhà Alsace: Nhà vừa gỗ vừa vữa hồ. Sườn nhà bằng gỗ, xen kẽ vách bằng vữa hồ.  

*************************************************

CHƯƠNG II

CON ĐƯỜNG HỌC VẤN ĐẦY GIAN NAN

    Le Havre

    Lina và Édouard không có gia tài nào khác, ngoài tình yêu thương họ dành cho nhau. Họ biết cách làm thăng hoa tình yêu trong cuộc sống lứa đôi, trước tiên là cùng khích lệ nhau trong công việc làm ăn: Lina bỏ quầy bán áo nịt (cooc xê) phụ nữ để đi lên cao hơn tí và vào làm cho một hiệu buôn bán các loại mũ nón. Édouard vẫn theo đuổi hoàn thiện nghề, loanh quanh trong cùng một vùng như trước kia –nói đúng ra là vùng thân thể --- vì anh là thợ cắt tóc.

    Tình yêu của họ cũng sinh hoa kết trái với viễn tượng một đứa bé sắp chào đời: 11 tháng sau đám cưới, ngày 6 tháng 12 cùng năm, Lina hạ sinh một bé trai kháu khỉnh, đặt tên là Pierre. Thật là một niềm vui sướng trọn vẹn cho gia đình! Tin vui cũng vang đến tận hải đảo xa xôi, mà càng vui hơn nữa, vì từ thời ông ngoại Leo Dufu, sinh năm 1850, đến nay mới chỉ có một cậu con trai duy nhất nầy. Ngày 29 tháng giêng năm 1903, ông viết:

    “Tôi vui mừng biết bao khi có một cháu ngoại trai! Hy vọng cháu đến sẽ làm chấm dứt những chuỗi ngày đau buồn kéo dài trong đời tôi đã từ lâu năm, và cháu sẽ là điềm lành bé nhỏ của chúng tôi. Thật vậy, đã có đủ con gái trong nhà. Dù chúng có đẹp, cũng không nên nhiều quá!”.

    Maman-Bonne, 81 tuổi, vẫn sống ở Gourbeyre, cũng cảm thấy được an ủi khi có cháu ngoại trai tóc vàng, mắt xanh. Dù nom có dáng gốc Alsace hơn là Guadeloupe.

    Ngay sau đó, gia đình trẻ quyết định đổi đời, rời thủ đô Paris và, gom góp vốn liếng còm cõi của mình, mướn mặt bằng mở tiệm cắt tóc ở Le Havre, nơi ông Édouard đang sống đời góa bụa.

    Ông chủ trẻ khai trương thành công mỹ mãn tiệm hớt tóc, được quảng cáo không một chút khiêm tốn như “tiệm hớt tóc lớn nhất vùng”. Thật vậy, cách trang trí nhìn rất lôi cuốn, trên cái sàn bằng gỗ bóng lộn, trước 6 cái ghế trang bị giàn gương kính sáng choang, bên cạnh tủ kính chất đầy đủ thứ loại nước hoa, cộng thêm những chú thợ trẻ tuổi ăn mặc chỉn chu, thân thiện với khách hàng, và đặc biệt ông chủ tiếp khách rất lịch sự với cái giọng miền Đông nghe lạ tai và lôi cuốn.

    Không gian sinh hoạt gia đình bị thu hẹp lại: họ tạm chấp nhận bố trí căn phòng cuối tiệm phía dưới nhà làm nơi sinh hoạt và bếp núc. Đây là phần cơi nới thêm trong cái sân cũ, mái lợp tôn, khoét 4 ô lấy ánh sáng. Tất nhiên trong căn phòng thiếu sáng đó, Lina phải chuẩn bị bữa ăn không chỉ cho gia đình chồng con mà còn cho đám thợ ăn trưa để tranh thủ thời gian. Không biết Lina có tiếc nhớ ánh nắng mặt trời ở Guadeloupe không? Hay không khí trong lành vùng Grand-Maison? Chỉ biết rằng thỉnh thoáng người ta nghe chị lẩm bẩm, như tự nhủ mình: ”Giờ mới hiểu sao nhiều dân tộc thích nắng mặt trời đến thế …..Tôi mà không có niềm tin, tôi cũng sẽ như họ!”

    Trên lầu là hai phòng ngủ: một cho ba mẹ, một cho con cái. Trên cùng có cái gác xép nơi Lina mang đồ giặt từ cái ngách sau bếp lên phơi: không chỉ là quần áo gia đình, mà còn chất đống nào là áo choàng, tạp dề, khăn lau sau một ngày làm việc của tiệm.

    Khách hàng đông, nhờ tiệm nằm ở một vị trí thuận lợi, số 11 cung đường La République, đối diện nhà ga và cũng nhờ vào tiếng đồn râm ran về ông chủ tên Seitz. Lúc đầu tiệm chỉ phục vụ quý ông, rồi phải thêm một ghế thứ bảy nữa, phục vụ cho quý bà. Ông chủ làm việc không ngơi nghỉ từ bảy giờ sáng mãi tới mười giờ đêm, trừ ít phút nghỉ trưa để ăn cơm. Thời đó không biết nghỉ hè là gì, ít ra đối với các nghề tự do, kể cả chủ nhật cũng không. Tuy nhiên, chị Seitz vẫn giữ “ngày của Chúa” để đi tham dự thánh lễ, vì chị có lòng tin và cả mộ đạo nữa, nhưng chồng chị thỉ không – điều làm chị đau lòng.

    Rồi ngay trong cái phòng trên gác, ngày 5 tháng 8 năm 1905, chị sanh đứa con thứ hai, một bé gái, đặt tên là Anne-Marie, quen gọi là Annette.

    Và cũng trong phòng trên gác đó, mười sáu tháng sau, ngày 22 tháng 12 năm 1906, đứa trẻ thứ ba chào đời: Paul Léo, giám mục tương lai của giáo phận Kontum, Việt Nam. Cháu được rửa tội vài ngày sau đó trong nhà thờ giáo xứ đã được cung hiến cho thánh Anne. Những đứa trẻ nầy mang lại niềm vui cho cha mẹ, dù họ phải nỗ lực làm việc nhiều hơn, lo lắng nhiều hơn. Rồi họ phải dọn gác lửng nơi dành để phơi đồ cho hai cậu, nhường phòng lầu một cho Anette.

    Ít ngày sau khi cậu Paul chào đời, chị Seitz trải qua một ca mổ nhiều nguy hiểm cho tính mạng và chấm dứt thai sản. Chị buồn lắm. Nhưng chị vẫn can đảm tiếp tục công việc và giúp đỡ các em gái chị. Lại thêm một chuyện buồn: hai em chị chết yểu không lâu sau đó.

    Trong những năm đầu, cậu Paul được dì Denise dạy tập đọc, tập viết. Dì là người thứ sáu trong bảy chị em và là giáo viên trường tư ở Le Havre. Sau đó, cậu theo đuổi việc học nơi ngôi trường làng mà anh Pierre mỗi sáng dẫn cậu đi, tuy cậu chẳng thích thú gì việc học hành vì cậu thấy việc học chẳng có ích lợi chi cho lắm. Anh Pierre thì học xuất sắc, luôn luôn là một trong những kẻ đầu lớp, còn cậu Paul, tuy thán phục anh, nhưng lại không thèm bắt chước.

    Rồi chiến tranh 1914 bùng nổ: lại những đảo lộn, lại những khổ đau, lại thêm tang tóc cho bao gia đình. Đức thua trận, với Alsace và Lorraine trở về lại với nước Pháp là niềm an ủi lớn cho những kẻ đã phải ly hương, nhưng gia đình họ Seitz đã an cư lạc nghiệp ở Le Havre và không nghĩ đến việc hồi hương nữa.

    Lúc nầy, phong trào hướng đạo hồi sinh hồi phục, cậu Paul lao vào hoạt động phong trào nầy, hăng say hơn đi học chữ; cậu tuyên hứa nghiêm túc năm 1919 :” Trong danh dự, và với ơn Chúa, tôi cam kết phục vụ Chúa, phục vụ Giáo hội, phục vụ tổ quốc; giúp đỡ tha nhân trong mọi tình huống, và tuân thủ luật hướng đạo”.

    Cậu sẽ trung thành suốt đời với lời thề đó, và cũng giống như nhiều người khác được rèn luyện theo kỷ cương và lý tưởng này, cậu cũng thấy đó như một nguồn gốc gián tiếp cho ơn gọi của cậu. Còn lúc này thì cậu chỉ thích thú với những chuyến đi về vùng quê, những buổi cắm trại trong kỳ nghỉ hè dài ngày đưa  đội của mình đến các vùng lân cận. Cậu khá táo bạo, gan dạ, thường là đầu tàu trong những trò chơi đối đầu giữa các đội. Cậu thích ngắm bầu trời đầy sao, chiêm ngưỡng các tinh tú và học tên các chòm sao. Cậu từng mua ba cuốn sách Thiên văn phổ thông (L’Astronomie populaire) của François Arago, mà cậu cẩn thận cất trong hóc tủ trên gác.  

    Pierre nhảy từ thành công nầy đến thành công khác: sau khi có chứng chỉ và bằng tốt nghiệp trung học, cậu tuyên bố phải lấy cho được bằng tú tài và học hàm thụ trên gác để đỡ tốn tiền cha mẹ. Và điều thật ngạc nhiên cho cha mẹ cậu là cậu lấy được bằng năm 18 tuổi, trong khi đó cậu Paul “không làm nên trò trống gì cả”, theo lời kể của chị cậu! Cậu thực sự thi rớt bằng tiểu học năm 15 tuổi. Tay lười biếng, mộng mơ và lãng tử nầy sẽ làm gì ra hồn?

    Nhưng cậu ta mơ ước điều gì? Dường như cậu bị lôi cuốn bởi một lý tưởng khác hơn là toán học và văn chương? Người ta phát hiện cậu đã âm thầm làm, nơi góc căn gác chung với anh trai, một cái nhà tạm (vì không đủ chỗ đặt bàn thờ) và tuy thường rất lười dậy buổi sáng, cậu đã mỗi ngày trong tuần đi giúp lễ cho ông cha già  dòng Phanxico ở tu viện bên cạnh.

    Cậu tâm sự là thích học ngành nông nghiệp: chắc là do ảnh hưởng dòng máu Guadeloupe và tổ tiên thiên nghề nông bên ngoại chăng? Tháng 9 năm 1923, cậu vào học trường Nông nghiệp Yvelot, khoảng 50 km về phía đông bắc Le Havre, và sau khi học ở đó vài tháng đã đi thực tập tại nhà một nông dân tên Paillette. Sung sướng và vô tư, cậu làm nghề nông trong vòng 3 năm, trong khi Pierre xuất sắc vượt qua các môn thi của trường H.E.C (Cao đẳng Thương mại), sau khi dọn thi cũng trong căn gác ở đường La République. Còn Anette theo học ngành y tá ---- nghề mà cô theo đuổi tận tình và vô vụ lợi trong suốt cuộc đời độc thân của mình. Chính nhờ cô mà chúng ta có được nhiều kỷ niệm quý giá, được ghi chép lại cho các cháu chắt cô.

    Trong khi Pierre là đứa con trai giống cha, máu Alsacien, chăm chỉ trong công việc, chắc chắn trong mọi kỹ năng và luôn hoàn thành nhiệm vụ của mình, cậu Paul có vẻ giống mẹ, gốc Antilles, gần gũi với thiên nhiên và Đấng Tạo Hóa, không quan tâm đến ngày mai, mang chút tâm hồn thi sĩ, gần gũi và nhiệt tình với bà con, dễ mến và vui vẻ với mọi người, tận tụy và hay bày trò với chúng bạn, trước là với các bạn hướng đạo sinh, rồi với các bạn bè chủng sinh, và với thanh thiếu niên Việt Nam sau nầy.

    Lúc nầy, cậu mãn nguyện với nghề làm nông và làm tới cùng; cậu khá thờ ơ với gia đình, tuy thỉnh thoảng vẫn về thăm và thấy vui khi họ hạnh phúc: thực vậy, tiệm tóc làm ăn khá ổn, công việc buôn bán nước hoa và những sản phẩm làm đẹp chất đầy trong cửa hàng của bà Seitz phát triển khá, cho phép bà có thời gian thư giãn và chơi lại đàn piano, nhiều lúc cùng với Annette nữa. Một sự kiện vui lại đến: cuối cùng gia đình cũng mua được một mảnh vườn nhỏ ở quê, đặt tên là La Cagna[i], với những luống hoa, cây ăn trái, để làm nơi nghỉ ngơi mỗi Chúa nhật; có cả hai cái chòi lớn giúp tránh mưa, một giàn thể dục gồm xích đu, xà treo và lắc vòng. Thật là một xa xỉ, sau bao nhiêu năm vất vả và khổ đau! Tuy không làm sao so sánh được bằng cảnh thiên đàng của những trang trại Grand’Maison và Gourbeyre xưa kia…..

    Đúng lúc đó, có tin quan trọng vào tháng 11 năm 1923: Ông bà Léo và Marie-Conchita Dufau không chịu nổi nỗi cô đơn khi xa các con và ước ao được gặp mặt đứa cháu trai  --- do ông bà chỉ có con gái thôi. Vì vậy, họ quyết định bán luôn nông trại cuối cùng còn lại, được kế thừa từ bà nội “Maman-Bonne” Bourbet, đã qua đời năm 1914 ở tuổi 92, và toàn bộ bàn ghế tủ giường, rồi dọn về ở với cô con gái Marthe, hiện là bà Charles Martinet, mẹ năm cô gái và một cậu trai ở Saint-Germain-en-Laye.

    Ngày 22 tháng 4 năm 1924, ông bà đoàn tụ với gia đình, trong niềm vui mừng và cảm động khôn tả. Lina đã không gặp cha mẹ mình kể từ khi rời đảo, năm 1898: đã 26 năm trời! Không biết chị còn nhận ra ông bà khi ở cảng đến không?...... Chị giới thiệu ông chồng Édouard và các con, đang tụ tập đón ông bà ngoại. Trong cuốn nhật ký, chị ghi lại về cha mình như sau:

    “Tất cả tình thương của con vẫn không an ủi được cha; chừng ấy năm đau khổ quá đủ rồi. Lạy Chúa, Ngài đã chẳng hứa sẽ tha thứ cho những kẻ đã chịu nhiều khổ đau sao? Xin Chúa cho kể từ bây giờ, trong khoảng thời gian cha con còn sống dưới thế nầy, cha luôn được các cháu của cha ủi an”.

    Những năm 1925-1927, tuy luôn gắn bó với nhau, gia đình phải sống rải rác mỗi người một phương. Tháng 7 năm 1925, Pierre tốt nghiệp H.E.C. Cậu chưa đầy 22 tuổi và tiếp tục theo học luật khoa. Cậu cho cha mẹ hay là muốn cưới cô gái cậu quen trong thời gian cũng khá lâu rồi: cô tên là Suzanne Holley và làm việc trong ngân hàng. Bà Seitz hơi bối rối trước tin này. Bà ghi lại như sau vào nhật ký:

    “Tôi đã già chưa (ở tuổi 47!) mà giờ thằng con trai không chỉ còn riêng cho mình? Lạy Chúa! Xin vâng theo ý Ngài, và con tự nguyện rút lui, nếu đó là hạnh phúc của con con.”

     Hôn lễ của Pierre và Suzon được cử hành vào ngày 26 tháng 7 năm 1927 tại Nhà thờ Saint-Denis de Sanvic, ở ngoại ô Le Havre, bởi một người cha bạn của gia đình, cha Émile Blanchet, khi đó ngài là hiệu trưởng trường Saint-Joseph Havre, rồi sẽ trở thành viện trưởng viện Đại học Công giáo Paris, rồi làm giám mục Saint-Dié.

    Trong buổi lễ gia đình đó, có một người vắng mặt nổi bật: đó là cậu Paul, em trai của  Pierre. Nhưng bây giờ chúng ta sẽ gặp lại cậu, để không còn rời xa cậu nữa.

Le Maroc

    Vào tháng 11 năm 1926, cậu nông dân tập sự của chúng ta, chưa tròn 20 tuổi, bị buộc phải thi hành nghĩa vụ quân dịch trong vòng 18 tháng. Cậu phải bỏ cày để cầm súng, bỏ vùng đất xanh tươi Normandie đi đến vùng sỏi đá Maroc. Cậu lên đường, không phàn nàn, vì cậu thấy “hoàn toàn bình thường cho một người thanh niên Pháp phải hy sinh một hai năm để phục vụ đất nước mình”. Còn mẹ cậu "khó chấp nhận" hơn: Bà ghi lại trong nhật ký:

    “Con con đã bỏ con, con con đã đi xa! Hơn một năm không gặp. Đó là ý Ngài, lạy Chúa! Chúa dẫn con con theo số phận của nó, con xin phó dâng nơi Ngài. Phần con con, lạy Chúa! Ngài hãy biến nó thành một con người, một con người đường hoàng! Con muốn can đảm, nhưng con tội nghiệp bé Paul con lắm!”

    "Ngài dẫn dắt con con đến số phận của nó”. Các bà mẹ thường có những trực giác như thế!----Ta thấy bà luôn thổ lộ tâm tình sâu xa nhất nơi Chúa và coi đó như lời cầu nguyện.

    Paul rời Marseille vào tối ngày 30 tháng 11 trên tàu Fatima, với bốn trăm bảy mươi binh sĩ khác. Lần đầu tiên, chàng trai ly hương này rời nơi chôn nhau cắt rốn, không phải là không cảm động. Tất cả các bạn đồng hành đều ở chung trong khoang tàu, nơi nặng mùi và dễ buồn nôn, lại càng nặng mùi hơn khi những kẻ hay say sóng nôn mửa. Do đó, cậu Paul thích lên trên boong tàu, và ở đó hai ngày hai đêm trong suốt chuyến hải hành. Như thường lệ, đặc biệt là trong mùa này, vịnh Lion (mà Paul gọi là vịnh Lyon, với một chữ “y”, bởi vì lúc đó cậu không khá về địa lý cũng như chính tả) biển động và con tàu nhảy lắc lư trên sóng; nhưng vào  chiều tối ngày 2 tháng 12 biển lặng và người ta nhìn thấy vịnh Oran tuyệt đẹp, với viền núi bao quanh, trong nắng đổ chiều tà. Đó là nơi các binh lính sẽ xuống tàu cặp bến và được đưa đến pháo đài được xây trên một đồi cao để bảo vệ thành phố.

    Mọi thứ đều mới lạ dưới đôi mắt đầy ngạc nhiên của các cậu. Bầu trời và biển cả là một màu xanh bao la; cây cối, với những vườn cây cọ, vườn cây ô liu, vườn cam, bãi cây xương rồng, thật khác xa so với Normandie.

    Nhưng đơn vị cậu chỉ tạm lướt qua vùng đất Algérie nầy, khi đó là lãnh thổ của Pháp, và một ngày sau, cậu được đưa đến Oudjda, ở Maroc, nước nầy, lúc đó nằm dưới sự bảo hộ của Pháp. Mười giờ tối, ba lô nặng trĩu trên vai, mọi người đến ga Oran, và từ bốn mươi đến năm mươi cậu được nhét trong các toa chuyên chở súc vật, nửa trong họ ngồi trên ghế, nửa còn lại ngồi dưới sàn. Phải mất hai mươi hai tiếng để di chuyển được 200 km theo đường chim bay. Và chưa hết, vì doanh trại cách nhà ga sáu cây số: lại cuốc bộ, và ba lô luôn luôn trên vai. Kiệt sức, cuối cùng mãi đến 11:30 đêm các cậu mới có thể nằm dài trên đệm rơm. Vậy cũng tốt rồi, vì các cậu đã không thay quần áo bốn ngày nay! Và chuyện tắm rửa vào sáng hôm sau là vô giá….

    Chàng Paul của chúng ta luôn nhớ về cha mẹ, gợn buồn, tuần này qua tuần khác cậu viết thư về kể lại những hành trình di chuyển, về đời sống quân ngũ, những gặp gỡ của cậu, những kinh nghiệm và những khám phá làm chúng ta không thể không nhớ tới: đó là những kinh nghiệm và khám phá cách đây không lâu và cũng chính tại vùng đất này, của một binh sĩ nổi tiếng khác tên là Charles de Foucauld, người bị sát hại mười năm trước ở Tamanrasset. Theo dấu chân người, chúng ta sẽ có được một ý tưởng độc đáo về vùng Bắc Phi cũng như về những đoàn quân thực dân của chúng ta thời đó.

    Cậu đăng ký học trường hạ sĩ quan. Tờ khai y tế cho chúng ta biết thể trạng của chàng trai: cao 1 m 77; nặng 64 kg; vòng ngực 92 cm.

    Cậu viết:

    “Với một dụng cụ đặc biệt, vị sĩ quan nghe nhịp tim và tiếng thở. Con đã được công nhận có sức khỏe tốt, và con được chích thuốc ngừa thương hàn. Con bị sốt suốt 24 tiếng đồng hồ nhưng bây giờ, mọi chuyện đều tốt đẹp.”

    Tuy chuyện sống chung chạ trong các phòng làm cậu khó chịu, cậu cho biết: ”Con có quan hệ tốt với mọi người, và đó là điểm quan trọng nhất."

    Sau thời gian lưu trú ngắn ngủi tại Oudjda, đơn vị cậu lên xe lửa đi về phía tây nam vào ngày 20 tháng 12: một tuyến đường sắt nhỏ "dạng Decauville" dùng riêng cho quân đội, đường ray chỉ rộng 60cm và tốc độ chỉ được 20 đến 30 km/giờ. Phải mất mười tám tiếng để chạy hết 229 km, khoảng cách từ Oudjda đến Taza, tính ra chỉ khoảng 13 km/giờ. Và, luôn luôn ở trong toa dành chở gia súc.

    “Thỉnh thoảng tàu dừng, để thợ máy xiết lại các bánh xe của đầu máy hoặc một vài bu-lông khác sắp rơi. Thật buồn cười và tụi con cũng chỉ cười trừ thôi, vì có bực mình thì cũng chẳng ích lợi gì.. Vùng đất đồi núi hiểm trở. Giống như đường sắt nhỏ kiểu Decauville, đường này cũng không có hầm chui, tụi con đi vòng quanh chân núi. Vì vậy, tụi con phải đi đến 30km, trong khi theo đường thẳng thì chỉ  có 10 km thôi. Đất rất khô cằn: đúng là một sa mạc. Từ nơi này đến nơi khác, đất, mà cũng chỉ là cát thôi, bị cào mòn trũng xuống bởi những con suối, nhưng lúc này đã cạn queo. Trong lòng sông, trải đầy những đá cuội và cả hai bờ đều dốc đứng, bị khoét sâu, bị xói mòn, chứng tỏ vào mùa mưa nước chảy rất xiết. Tụi con vượt qua những con suối nầy trên những cây cầu bắc ngang chỉ rộng bằng đường đi. Vượt qua chúng thật là ấn tượng. Nhìn xa khoảng ba mươi hoặc bốn mươi mét, cảm giác thật tuyệt vời. (…..) Con cam đoan với ba mẹ rằng phong cảnh rất tuyệt vời và đã không tiếc công từ xa xôi đến đây, dù cho các phương tiện di chuyến có tồi tệ.

    Cha mẹ yên tâm: những cảnh đẹp của Maroc không làm con quên "xứ Normandie thân yêu của con đâu": con sẽ thấy hài lòng về Normandie hơn những gì con đã thấy ở xứ sở nầy.”

    Lễ Giáng Sinh đầu tiên xa gia đình dường như làm cậu cũng cảm thấy buồn và việc khó khăn tham dự thánh lễ làm cho cậu khổ tâm.

    Kéo dài trong ba tháng, Paul và các cậu đồng đội tham dự các “lớp học”, để học một nghề mới: lý thuyết trong lớp, học đi đều bước bên ngoài, tháo ráp súng, tập bắn bia, v.v…Cậu thuộc trung đoàn 24 binh vận, phải học cách tổ chức việc vận chuyển, cả thiết bị lẫn quân nhân. Kinh nghiệm hướng đạo của cậu rất quý, bởi vì cậu đã được huấn luyện sơ lược cách tổ chức trại, cũng như những bài tập thể lực làm tăng sức mạnh và sự khéo léo, và cả cách nấu ăn bằng bếp củi trên mấy viên đá xếp lại, v.v…

    Điều khiến cậu Paul thích thú hơn cả là ngựa ----- bởi vì khi nói về "trung đoàn binh vận ", liên quan đến việc “vận chuyển đoàn quân”, ngựa là phương tiện phổ biến để vận chuyển hay để tham gia chiến đấu --- Vì đoàn quân của chúng ta được gửi qua Maroc có thể được phái đi bất cứ lúc nào để trấn áp các bộ lạc nổi loạn, chặn biểu tình thù địch, ngăn các cuộc đột kích, ngăn kẻ cướp từ trên núi xuống, hoặc những hành động thù nghịch khác. Do đó, những người lính không chỉ học cách đi ngựa mà còn phải học cách nhào lộn, các bài tập cân bằng, để có thể ngồi vững trên yên khi ngựa phi nước đại trên mọi địa hình.

    “Vào ngày 8 tháng 1 năm 1927, Paul đã viết chiều nay thay vì đi tập, Trung úy đã dẫn tụi con cưỡi ngựa lên núi chơi. Tụi con bắt đầu đi nước kiệu khoảng 1 giờ, rồi, khi đến những con đường mòn, tụi con đi chậm lại. Tụi con đã đi hơn hai mươi cây số. Không cần phải nói ba mẹ cũng hiểu đây là trò con thích biết chừng nào. Con đã hứa, khi con được gắn lon hạ sĩ, mỗi ngày Chúa nhật con sẽ đi ra ngoài để thăm viếng quanh vùng.

    Trong lúc chờ đợi, con đã có bộ yên/cương để chùi bóng và con bảo đảm với cha mẹ là công việc không thiếu! Các bàn đạp, bộ cương bị hoen rỉ, và quy định đòi hỏi chúng phải sáng bóng như bạc. Con có một con ngựa rất cừ, nó thuần chủng. Khi nó nóng lên một chút, không có cách nào để giữ nó đi chậm. Con đã phi nước đại với tốc độ chóng mặt và, trong vùng núi nơi tụi con đã đi, con đã phải nhảy vượt chướng ngại vật. Cha mẹ biết con mê biết chừng nào!”

    Một lần khác, cậu viết:

    “Hôm qua, tụi con phi nước đại như khi tấn công địch, trên chặng đường khoảng một cây số. Thật tuyệt vời, sức mạnh của các chú ngựa. Ngực của chúng lướt gần sát mặt đất và thật khó để dừng chúng lại. Không cần phải lặp lại, ba mẹ biết con thích cỡ nào. Chúng con cũng tập nhào lộn khi phi nước đại, trong một khu luyện ngựa nhỏ. Tụi con phải tập nhảy lên lưng ngựa khi nó đang phi nước đại, rồi cố giữ ngồi yên trên đó, phía bên phải hoặc phía bên trái, rồi nhảy xuống đất. Lần đầu tiên con làm, con đã mất thăng bằng và ngã về phía bên kia. May là đất mềm, và mấy con ngựa có thói quen tự động dừng lại.”

    Can đảm, cậu tiếp tục: "Con thậm chí không có thời gian để sợ, và năm phút sau con lại nhảy lên ngựa, nhưng lần này thành công."

    Trong doanh trại còn có những con la. Trong vùng nầy, đường chỉ là những lối mòn rất khó đi xe, người ta sử dụng những con la vận tải, được dùng để tiếp liệu cho các tiền đồn biệt lập. Chỉ người bản xứ dẫn chúng và chăm sóc chúng.

    Thị trấn nhỏ Taza nằm trên trục chiến lược Oran-Tlemcen-Oudjda-Fes-Rabat. Vì thế lưu thông đi lại khá nhộn nhịp. Chắc hẳn Paul đã được rơi vào một môi trường lành mạnh và đáng yêu, với các sĩ quan thực dân dễ chịu và biết cảm thông với các tân binh quân dịch, họ đối xử khoan dung, cho ăn uống đầy đủ, cả số lượng lẫn chất lượng. Họ cho học tiếng Ả Rập để các tân binh có thể giao thiệp với người bản xứ. Tất cả điều nầy xảy ra, tại thời điểm đó, trong bối cảnh tương đối an bình, và quan hệ với nước Pháp còn thân tình và đang phát triển tốt đẹp.

    Phải chăng Paul mong muốn những người lính Pháp làm gương giúp người bản xứ hiểu rõ hơn về đạo công giáo, cho người bản xứ thấy họ cũng cầu nguyện, họ cũng thực hành bác ái, biết tôn trọng mọi người và họ không đến đất nước này để vơ vét của cải và chiếm đoạt phụ nữ, nhưng để mang đến cho họ những điều tốt lành của văn minh Kitô giáo. Than ôi! không dễ như thế mà trái ngược hẳn. Và đó là vấn đề khổ tâm. Đó cũng là lý do thất bại ở bất cứ nơi nào nước Pháp tìm cách chiếm làm thuộc địa.

    Nhưng thêm một điều cho thấy Paul may mắn được nằm trong một đại đội được ưu đãi là rốt cục cậu ấy có thể đi lễ Chúa nhật và được gặp nhiều sĩ quan ở đó.

    “Ngày 28 tháng 1 năm 1927”, cậu viết, “Con thấy có ông tướng, và khá nhiều sĩ quan cao cấp. Cũng có những chú lính quèn, con sẽ làm quen với họ ở câu lạc bộ”.

    Cậu hăng say theo học để trở thành hạ sĩ, cấp bậc cậu đã đạt được chỉ sau hai tháng "lên lớp": ngoài các bài tập trên lưng ngựa, còn có những bài tập bắn súng trường, và tuy cậu chưa khéo lắm, nhưng cũng đứng thứ 6 trên 60 trong bảng xếp hạng đầu tiên của trung đội, và đứng thứ 3 trong bảng tổng kết sau cùng. Ngay sau đó cậu được đào tạo cấp tốc trong vòng một tháng để trở thành trung sĩ.

    Cuộc sống qua đi tốt đẹp, trong một khu vực yên bình, mặc dù có giao tranh lẻ tẻ, nhanh chóng bị trấn áp; với câu lạc bộ công giáo nơi cậu chơi cờ với cha tuyên úy; với những buổi đi tắm suối, dù là tháng hai, nhưng nước vẫn ấm; với những buổi đi săn nữa, một lần nọ ông trung úy đưa cậu đi săn lợn rừng, nhiều vô kể trong núi, nhưng họ trở về tay không; và, buổi tối cậu vui vẻ bập cái tẩu trong khi đọc báo nhận từ Pháp.

    “Trong thời gian gần đây, con rất vui khi quen biết ba anh bạn không dám xin phép ra ngoài đi lễ vào sáng Chúa nhật. Con quyết định rủ họ đi và bây giờ, thay vì một mình, chúng con có bốn người”.

    Cậu tìm cách học hỏi và tận dụng mọi hoàn cảnh: cậu nhắn cha mẹ gửi cho cậu mấy cuốn sách thiên văn học của mình.

    “Vâng, con vẫn thích khoa học này, và ở trong xứ sở nầy, trời đêm rất trong và có những ngôi sao mới mà con rất thích chiêm ngắm. Có đến ba cuốn, con bỏ ở trong tủ trên gác.”

    Khí hậu của Maroc dường như rất phù hợp với chàng Normand của chúng ta --- nơi mà, có lẽ, dòng máu Antilles chiếm ưu thế.

     “Nếu mẹ nhìn thấy làn da của con, mẹ sẽ tưởng rằng mẹ nhìn thấy một chiếc bánh mì nướng. Thật vậy, mặc dù chưa đến mùa xuân, trời nóng và con có một làn da rám nắng rất nhanh. Con chịu nóng rất tốt và con thích hợp với khí hậu đến tuyệt vời. Con chẳng biết đến bệnh tật là gì: không đau bụng, không đau đầu, không đau bao tử… và luôn luôn hài lòng! Thật ra, con đã không mất đi sự dẻo dai của mình; nếu mẹ thấy con nhào lộn trên lưng ngựa đang phi nước đại, mẹ sẽ bị chinh phục ngay.”

    Một tính khí vui vẻ, cộng thêm một thể trạng đặc biệt khoẻ mạnh!  Đọc thư của cậu, người ta có ấn tượng rằng cậu làm được mọi sự như đùa, với nụ cười trên môi. Ngay cả khi giặt quần áo dưới suối, cậu cũng xem đó là thú giải trí, giống như được tả trong một bài luận văn :

    “Mỗi chiều chủ nhật, con đi giặt quần áo dưới suối; thời gian gần đây, con áp dụng cách thức mới cho việc làm này: con giặt như người Ả Rập, nghĩa là bằng chân … và con mong cha mẹ tin rằng đồ giặt của con sạch bong! Để bắt đầu, tất nhiên, phải cởi giày ra, sau đó nhúng quần áo ướt và chất đống lên, xát xà phòng thật nhiều. Và bây giờ, tất cả những gì con phải làm là nhảy lên trên cho đến khi xà phòng xủi bọt; rồi xả, tiếp tục nhảy và xong. Đó là một quy trình rất nhanh và cha mẹ có thể chỉ cho bà Baudu, người phụ nữ giúp việc của cha mẹ…(Mười dấu chấm lửng!)”

    Cậu cũng tìm cách trấn an cha mẹ, vì biết ông bà nghe đủ thứ tin tức từ Bắc Phi, nơi thỉnh thoảng có những cuộc đụng độ đẫm máu, được đăng trên trang nhất của báo chí. Ông bà đã đọc trên báo là ở Ouezzan, cách Taza không xa, đã có một cuộc phục kích và hai hạ sĩ quan bản xứ bị giết, một người trong số đó, Paul biết rất rõ vì cậu đã huấn luyện tân binh cho họ trước đây. Những người lính bản xứ là một loại cảnh sát trong thôn, vai trò của họ khá nguy hiểm vì họ chịu trách nhiệm giữ gìn trật tự trong các bộ lạc. Vì biết cha mẹ cậu biết về sự việc và lo lắng sẽ nguy hiểm hơn cho cậu khi cậu được lên chức thượng sĩ, cậu viết:

    “Con không cảm thấy lo lắng gì về trách nhiệm trong tương lai sẽ đến: con tin bản thân con có khả năng thực hiện dễ dàng nhiệm vụ sắp tới; ngoài ra, không có gì là phù phép cả. Khó nhất là biết cách làm cho những người lính bản xứ kính nể và sợ mình. Chỉ cần họ thấy một chút yếu điểm nơi người chỉ huy, là không còn cách nào làm cho họ vâng lời nữa.”

    Cậu thuần hoá họ, bằng cách đối xử với họ ít gay gắt hơn là các khóa sinh hạ sĩ quan khác; vì vậy cậu được quý trọng, thậm chí được yêu mến, và người Ả Rập mặc nhiên giúp lại cậu, cậu trả lại họ bằng thuốc lá, hoặc giúp họ một tay việc gì đó, hoặc thậm chí bằng vài lời khuyên.

    Cậu cũng thuần hoá những đứa trẻ lang thang quanh trại để xin thức ăn; chúng hay đi theo cậu xuống suối, cậu cho chúng miếng bánh mì hoặc một vài đồng tiền cắc. Và chúng trả lời: "Cầu Chúa chúc lành cho chú!". Tất cả những người dân đây sống rất nghèo, điều đó khiến cậu thương cảm và cậu tự hỏi làm thế nào họ có thể sống với điều kiện ít ỏi như thế.

    Cậu nói: Một hôm, con đang ăn ổ bánh mì; con thấy nhiều nơi cháy sém, con đã vứt đi. Một đứa nhỏ người Ả Rập đi ngang qua vội vã nhặt lên và ăn. Con liền cho nốt nửa còn lại!”

    Sau những tháng đầu sống đời quân nhân và thi đậu các môn học, Paul nhận được cấp bậc hạ sĩ và được nhiệm vụ tiếp tế các đồn hẻo lánh trong một bán kính tương đương với một ngày đường con la di chuyển, còn cậu thì đi ngựa. Sau đó, thêm đám lính mới, những người trẻ tuổi luân phiên đến từ Pháp, để thay thế những người được xuất ngũ. Cậu chịu trách nhiệm đào tạo họ, và công việc đó không phải là dễ; 90 người thuộc quyền; trong số này, 25% không biết chữ, 50% chỉ biết lõm bõm đọc viết, 25% còn lại vừa mới có chứng chỉ học bạ. Để cho họ hiểu những điều căn bản nhất, cậu hạ sĩ phải lặp đi lặp lại hàng trăm lần, đến khan cả tiếng! Lúc trước thì rảnh rỗi, nay bận cả ngày, nhưng cậu không phàn nàn, vì nhờ vậy mà thời gian trôi qua nhanh hơn.

    Khi các lớp huấn luyện tân binh kết thúc, cậu lại thích tái xuất làm công voa tải hàng như trước, với những con la, xe kéo và chú ngựa.

    Cậu nói:”Thật vất vả, rất vất vả, nhưng ….con thích cuộc sống như vậy. Một cuộc sống bận rộn với những khó khăn, mà "gần như hoàn toàn" tự do, ngủ trên đất cứng, ăn thức ăn thô. Tóm lại, một cuộc sống phát triển nhân cách, tinh thần sáng tạo và tạo nên người. Phải chăng chính là cái đau đớn thể xác hay là đau đớn tinh thần tạo nên điều đó? (…) Con thích sống trong một làng hẻo lánh vất vả làm lụng, hơn là ở nơi đông người mà suốt ngày không làm gì cả.”

    Về điểm này, cậu sẽ được toại nguyện hơn cả mong đợi trong một vài năm tới! Rõ ràng, những tháng ngày ở Maroc ảnh hưởng tốt đến tính khí và sức khỏe của cậu. Những bài tập mạnh bạo, đặc biệt với ngựa, những cuộc chạy ngựa gan dạ và lâu dài của cậu, những cuộc thi nhảy, những cuộc nhào lộn của cậu, những cuộc hành quân trên các đường mòn trên núi, những buổi đi săn lợn rừng cùng với ông trung úy của mình, cũng như những lúc trầm mình kéo dài dưới suối, có khi cả vài  ba tiếng đồng hồ: tất cả điều nầy làm thân thể cậu thêm cường tráng, giúp phát triển cơ bắp, dẻo dai chịu đựng, coi như bổ sung cho những gì cậu đã học được trong hướng đạo trước đây, ở mức độ cao hơn. Cậu ăn gấp bốn lần, ngủ thẳng cẳng, và cho rằng “tớ là mình đồng da sắt”: hàng ngày uống ký ninh chống sốt rét vàng da, cậu không bao giờ bị kiết lỵ hoặc sốt vặt, trong khi chế độ ăn uống, đặc biệt là nước, được cho là kém vệ sinh. Cậu không ngại xin cha mẹ gửi vài gói quà, để cải thiện cuộc sống hàng ngày, bằng cách gởi cho cha mẹ các “tem phiếu gởi hàng miễn phí của nhà binh” để sử dụng, và cậu luôn tế nhị cảm ơn họ bằng cả trái tim ----- ngay cả khi thanh sô cô la lúc nhận đã nhão nhoẹt do sức nóng mặt trời.

     Niềm vui của cậu là tìm ra thuốc lá để nhét vào tẩu, và rít liên tu bất tận, nhưng cũng có lúc thích lượm hạt dẻ trong vườn. Và rồi, giữa hai tờ giấy, thỉnh thoảng cậu phát hiện---- một bông hoa!

    “Cha mẹ có thể tin không, tất cả những bông hoa này là dành cho con: con ngửi, con nắn nót và, xoay đi xoay lại giữa các ngón tay, con thấy trong những cánh hoa, không chỉ là hình ảnh của căn nhà Cagna thân yêu, nơi gắn bó bao nhiêu kỷ niệm, mà còn là suy nghĩ trìu mến về cha mẹ thân yêu của con. Đó là mấy chuyện lặt vặt, nhưng làm con thích thú!

    Giờ cậu tham gia nhiều hơn trong phòng tuyên úy công giáo. Cậu giữ quan hệ tốt với cha tuyên úy quân đội, một linh mục dòng Phanxicô, cậu tham dự các buổi họp mặt ở câu lạc bộ và dự các buổi hội nghị, tận dụng sách thư viện, hát với ca đoàn gồm mười hoặc mười lăm ca viên, hầu như các quân nhân đồn trú ở Taza toàn là người Công giáo: giữa lòng của ngôi nhà nguyện hầu như chỉ có các sĩ quan và binh lính; một người đánh đàn dương cầm, một người chơi vĩ cầm hoặc thổi sáo. Sự hiện diện của cậu, lòng nhiệt thành tự nhiên và dễ lây lan của cậu chắc hẳn đã giúp thánh lễ trở nên sốt sắng hơn.

    Cậu nhận thấy tâm trạng đối với tìmh hình nơi cậu ở khác với tâm trạng bàng quan ở bên Pháp và những suy tư về vấn đề đó chứng tỏ cậu có một đầu óc sáng suốt, quân bình và vững chắc. Người Pháp ở đây chỉ là thiểu số sống giữa một đám dân mà nay cậu công nhận là họ có thái độ thù nghịch  - điều mà cậu đã không nhận ra lúc đầu, trừ phi cậu đã muốn trấn an gia đình. Trong trại, tỷ lệ người bản địa là 80%, do đó người Pháp sống liên kết chặt chẽ với nhau hơn và tất cả đều trân quý tình đồng đội. Cãi nhau là hiếm, chơi xấu, đê tiện cũng không. Cậu biết chọn bạn trong số những đứa không hay la cà ngoài phố hay không thích những trò giải trí kém lành mạnh.

    Viễn cảnh được xuất ngũ, trở về quê làm cậu nóng lòng, mặc dù vẫn còn phải vật lộn vài tháng nữa với đường sá ở Marốc. Cậu nhắc đi nhắc lại trong mỗi lá thư gửi cho cha mẹ rằng cậu rất mong gặp lại họ, và cậu chuẩn bị từng bước để tìm lại công việc đồng áng..

    Cậu hỏi:“Cha mẹ vẫn còn nhận được tập san Le Progrès agricole (Phát triển nông nghiệp-ND)? Con nghĩ là có, và như thế, cha mẹ có thể gửi cho con hai hay ba cuốn một lúc; để con cập nhật một chút với các vấn đề nông nghiệp.”

    Vào tháng 9, cậu hy vọng sẽ trở thành thượng sĩ - không phải là tướng bảy sao - mà là thượng sĩ thường vụ của những doanh trại binh vận: tương đương sĩ quan, một sự thăng cấp có lợi nhiều về vật chất, như là có một phòng riêng nho nhỏ chẳng hạn. Cậu đã nhập nhóm dự bị sỹ quan cũng một phần vì lý do đó: cậu không chịu nổi cuộc sống chung chạ! Trong số hai mươi mốt quân nhân trong nhóm, chỉ năm người đứng đầu được đề xuất cho chức vụ này, và cậu đứng thứ 5. Cậu thừa nhận may mà lọt vô được! Một cậu bạn làm việc tại văn phòng đại đội thấy những bản báo cáo thăng cấp với ý kiến phê của ông trung úy: “các hạ sĩ xuất sắc có khả năng trở thành các sĩ quan huấn luyện tốt”. Vậy là, không còn nghi ngờ gì nữa, tham vọng của cậu càng tăng nhiều hơn và cậu dự định sau đó sẽ thi lấy bằng trung đội trưởng. Bằng đó sẽ cho phép cậu, dù không tương đương cấp bậc, đảm nhiệm những công việc của một thượng sĩ và sẽ tự động lên lon khi trở thành quân dự bị. Điều đó còn cho phép cậu đến Fès, một thành phố cách đó một trăm hai mươi cây số. Và chính ở Fès mà cậu hân hoan viết lá thư cho cha mẹ như sau:

    “Ngày chờ đợi từ lâu đã đến: cuối cùng con đã thành thượng sĩ (gọi là thượng sĩ thường vụ). Phú quý sinh lễ nghĩa! Tối thứ hai, ngày 10 tháng 10, khi vô nhà ăn, con đã phải đãi mấy ông hạ sĩ quan cũ, rượu khai vị. Cho cả ba mươi sáu người…cháy túi luôn ! May thay, đoán trước điều này, con đã để dành được ít tiền tiết kiệm.”

    Ngay ngày hôm sau thứ ba, chàng hạ sĩ quan trẻ được tin cậu phải đi đến Fès trong vòng một tiếng nữa. Rộn ràng náo nhiệt như sắp ra trận, cậu khoác ba lô lên vai và bước nhanh đến ga nơi có chuyến xe lửa nhỏ kiểu Decauville, mà cậu đã đi từ Oudjda. Phải mất thêm một ngày rưỡi nữa trong cái mà cậu gọi là "chiếc xe cút kít chịu không nổi" để vượt qua một trăm hai mươi cây số. Nhưng may cho cậu, bằng cách trả thêm chút phụ phí, cậu được quyền đi một loại xe khác: một kiểu xe ô tô trên đường ray có 12 chỗ ngồi. Hành trình du ngoạn đẹp như tranh vẽ xuyên qua ngọn núi, trên hoành sơn Moyen-Atlas mà chiếc xe vất vả chậm chạp bò lên; đôi khi, đường dốc ngoằn ngèo chữ chi, đến nỗi người ta phải dùng luân phiên lúc thì máy kéo --- khi thì máy đẩy. Cứ mỗi năm trăm mét, tài công lại dừng lại, đi xuống, bẻ ghi (l’aiguillage), rồi leo lên và lại chạy tiếp. Rất may, không gặp nguy hiểm phải tránh chiếc tàu nào đi ngược cả. Nhưng nếu con đường chiến lược này được sử dụng để vận chuyển quân đội  khẩn cấp trong trường hợp người bản địa nổi loạn, người ta tự hỏi điều gì sẽ xảy ra. Và, nơi xoay xở khó khăn này, rất dễ lọt vào các ổ phục kích đưa đến nhiều thương vong! Trên đỉnh đèo, có trạm ứng cứu, họ cho máy nghỉ xả hơi một lúc, rồi lại mò đi xuống y hệt như khi bò leo lên.

    Cậu Paul mô tả cuộc hành trình với tài năng của một nghệ nhân, cậu nói:”Tàu chạy chậm lắm. Tụi con có nhiều thì giờ tha hồ ngắm cảnh. Toàn là những ngọn núi dốc thẳng đứng, rải rác nơi thì được phủ lên vài bụi rậm, với đàn gia súc ốm đói kiếm ăn, nơi thì cằn cỗi và hoang sơ: nhìn chúng rất đẹp vì những mỏm đá hườm hườm màu đỏ phản chiếu kỳ lạ với nền màu xanh mênh mông của bầu trời. Cuối cùng, khi màn đêm buông xuống, từ trên đỉnh đồi, thị xã Fès hiện ra rực rỡ với ánh sáng đèn đêm.”

    Đối với Paul, đó là một sự thay đổi hoàn toàn: từ giã một vùng hoang sơ với đất đai khô cằn sỏi đá, hầu như không có cây cỏ và một dãy trại và những căn lều, với các nhà ngủ cho sáu mươi tay điên điên khùng khùng ồn ào và thô lỗ. Bây giờ, cậu ở trong một doanh trại thực sự với các tòa nhà bằng đá, được bao quanh bởi cây xanh; cậu có một căn phòng thoải mái, ở chung với một người bạn dễ mến và lễ độ, và cũng là nông dân như cậu, thuộc vùng Amiens. Cậu có một chiếc giường nệm thực sự và một bàn rửa mặt. Cậu không tin nổi mắt mình!

    “Một cuộc sống mới bắt đầu. Trước tiên được ăn trong nhà cơm; mười một tháng qua con “đớp cơm”(xin lỗi dùng chữ thô lỗ này) với chiếc gà mên, nên nay con rất sững sờ khi thấy có hai cái đĩa, một cái ly trước mặt và một chiếc khăn ăn trên đầu gối! Không biết con còn biết sử dụng nửa không đây? Cũng may là con nhớ lại rất nhanh thói quen cũ. Thức ăn rất ngon. Mỗi bữa ăn no giãn cả bao tử: sung sướng biết bao!”

    Rồi sau đó ---- có quần áo mới tinh, điều mà cậu rất lấy làm hãnh diện! Cậu đã đi mua một chiếc mũ lưỡi trai (képi) thay cho mũ chào mào (calot), và trên tay áo của cậu sáng chói những lon bằng bạc, thay vì bằng len đen. Cậu đã phải trả hết 46 quan! Thế là cậu cố gắng đi kiếm một nhiếp ảnh gia giỏi trong thị trấn để gửi chân dung của mình cho cha mẹ; và tất nhiên, bức ảnh sẽ còn lưu lại cho hậu duệ dòng họ. Về lương bổng, cậu lãnh khoảng 40 quan mỗi tháng.

    Vừa ổn định xong, viên hạ sĩ quan trẻ đã được gửi đi công tác chín ngày trong một làng hẻo lánh, với một đoàn công voa thiết bị: một trăm cây số di chuyển cùng hai mươi chiếc xe, sáu mươi con la và ba con ngựa, với một hạ sĩ quan đi theo yểm trợ và hai mươi người Ả Rập.

    “Ôi cái nghiệp! Con đã nếm đủ thứ màu sắc: xe thì hỏng, còn mấy con la, con thì chết, con bị thương ... Suốt ba chặng vừa đi qua, con gần như không ngủ vì sợ bị mất trụi ... và rồi cũng đã bị thiệt! Có đêm, vì bão lớn, chiếc lều rách ập vào người con. Mò mẫm, trong bùn lầy và mưa lạnh, con phải cắm lại cọc. Nhưng con đoan chắc với cha mẹ rằng, ngay cả trong thời điểm tồi tệ nhất, con đã không để mất tính lạc quan, và bất chấp tất cả, con vẫn giữ nụ cười, vì con nghĩ có người còn khổ hơn mình, không có một tấm lều để trú. Con nghĩ mình được ưu đãi lắm rồi…”

    Rồi, say sưa trước vẻ đẹp của tạo hóa, cậu cao hứng viết lên những đoản văn thật lâm ly mà ai đọc cũng phải mê :

    “Cũng may là không phải đêm nào cũng như vậy cả. Con không thể tả cho cha mẹ hết tất cả niềm vui, nỗi xao xuyến mà con cảm nhận khi chiêm ngưỡng cảnh mặt trời lặn, những lúc mơ màng một mình, cách xa doanh trại, trong bóng đêm xóa nhòa vạn vật, lắng nghe côn trùng tấu nhạc, giống như để ngợi khen Đấng Tạo Hóa: có lẽ trái đất đang cầu nguyện chăng! ... Và rồi, trên bầu trời, những ngôi sao lấp lánh! Tựa như trên vòm cao của một ngôi thánh đường khổng lồ nào đó? Con không biết làm thế nào diễn tả hết được những gì con cảm nhận trong tận đáy lòng trước cảnh thiên nhiên này; nhưng con sẽ luôn cất giữ niềm vui bao la trước những khoảnh khắc tuyệt vời đó.

    Mỗi sáng con lại chứng kiến cảnh tượng trái đất thức giấc; phía đông bừng sáng, rồi tô thêm một màu hồng nhẹ, những ngôi sao chống lại ánh dương rực rỡ, nhưng rồi phải đầu hàng và mờ dần; cuối cùng, nơi chỗ trũng của vách núi, một quả cầu đỏ xuất hiện, như đi ra từ những ngọn núi, rọi chiếu màu lửa xuyên qua sương mù còn vương trên vách đá; đường chân trời rực sáng và trái đất ấm dần lên như đang hồi sinh. (…) Tuy nhiên, con thích buổi chiều hơn buổi sáng: nó tĩnh lặng hơn, yên lành hơn; giúp quên đi mọi lo lắng, tinh thần dễ dàng thanh thoát và, nếu không có sự mệt mỏi đưa con về trại, con sẽ đi lang thang suốt đêm thâu.

    Dẫn những đoàn xe công voa này là một hành trình rất mệt mỏi, nhưng Paul có sức chịu đựng phi thường: anh ngủ trên nền đất cứng, cuốn mình trong một tấm chăn đơn sơ; thức đêm để đi lòng vòng kiểm tra trại đóng quân và đánh thức các lính gác bằng gậy; cậu là người thức dậy đầu tiên và đánh kẻng báo thức lúc 3g30. Và sau đó, nhảy lên yên, và thúc ngựa đi! Mọi người lên đường! Về đến doanh trại, chỉ sau một vài giờ nghỉ ngơi, cậu không còn cảm thấy mệt mỏi nữa.

    Tại doanh trại, cậu cũng không ngồi yên, nhất là khi cậu là hạ sĩ quan trực tuần, nghĩa là khi nào, đến lượt mình, cậu chịu trách nhiệm với đoàn quân: 250 người, bao gồm hơn 200 người bản địa, và 400 súc vật, chủ yếu là ngựa và la. Bận rộn từ sáng đến tối và thậm chí từ tối đến sáng, tuyệt đối không đi ra khỏi trại. Ngoài ra, cậu đọc rất nhiều sách - đúng là một đam mê mới! - và cậu mua cuốn kinh Koran và sách nói về cuộc đời của Mahomet để hiểu rõ hơn về những người Hồi giáo đang chung sống với cậu; cậu mơ ước đi thăm một nhà thờ Hồi giáo, nhưng gần như không thể thực hiện.

    Trong một lá thơ gởi cho cha mẹ mình, cậu thổ lộ

    Thú thật với cha mẹ là trước khi bắt đầu đọc cuốn kinh Coran, con có do dự. Thật vậy, con sợ (từ nầy là chính xác) sẽ tìm thấy những lý lẽ vững chắc thiên về đạo Hồi mà có thể con không có câu trả lời và do đó có thể làm lay chuyển những xác tín của con. Nhưng, tạ ơn Chúa! Điều đó đã không xảy ra và những gì con đọc chỉ làm củng cố thêm đức tin của con mà thôi..

    Sau đó, cậu đã viết một bài khảo cứu ngắn về lịch sử của Mahomet và Hồi giáo. Cậu kết luận như sau về giáo lý Hồi giáo:

    “Đầy sai lầm!, Đầy huyền thoại trong đó, ngoài những điểm cao siêu mà Mahomet đã mượn ở Phúc Âm và Ngũ Thư.”

    Khi mẹ cậu tỏ ra lo lắng về việc đọc sách nầy, việc mà chính bà cũng không dám, cậu trấn an mẹ:

    “Kinh Koran sẽ không làm lung lay niềm tin của con đâu. Con biết đánh giá cuốn sách này theo đúng giá trị của nó. Mohamet chắc hẳn là một con người thông minh, táo bạo và khôn khéo. Nhưng từ đó tin ông ta là một tiên tri: không bao giờ!”

    Kỵ sĩ gan dạ của chúng ta thích đi ngựa ----- một đam mê mới nữa. Con ngựa được đặt tên là Vol-au-Vent (bay như gió), cái tên thật thích hợp; cậu tham dự những buổi đua ngựa và các môn thể thao liên quan đến ngựa, và không gì làm cậu thích thú và kinh ngạc hơn là chất lượng của những con ngựa thuần chủng Ả Rập. Cậu hay lang thang sâu quanh vùng nông thôn, rồi vào một buổi chiều nọ, tình cờ đưa cậu đến một ốc đảo, cậu phát hiện ra nhóm người dân bản địa còn mang trên mình bản chất tinh nguyên của sắc dân Ả rập. Họ sinh sống trong những túp lều tre nứa, vách đất, giữa một khung cảnh tuyệt vời dưới đáy hẻm núi dốc, nơi những cây cọ cao bao quanh dòng suối. Cậu cũng đi thăm hết thành phố Fès, ngạc nhiên trước vẻ đẹp của nó, những nhà thờ Hồi giáo với những ngọn tháp trang trí tranh ghép mảnh, mảng vữa xi măng giả đá đan xen những đường nét tinh vi, điêu luyện, những cung điện lâu đài là những kiệt tác kiến trúc, những nghệ nhân trổ tài bên cạnh các quầy hàng của họ, có kẻ cán đồng chế tác thành những chiếc khay đẹp lộng lẫy hoặc thành những bình đốt trầm hương, có người dệt những bộ y phục với màu sắc rực rỡ. Cậu cứ nghĩ mình như đang lạc vào thời trung cổ! Mãi mê vì thích thú, kẻ mơ mộng dễ mến đi lạc vào trong những con hẻm đầy hiểm nguy và lang thang mãi đến đêm trong mê cung khó thoát, nỗi lo lớn dần trong lồng ngực. Hết ngõ cụt đến những bức tường cao với cửa đóng then cài, những ánh mắt nghi ngờ xoi mói...Cuối cùng cậu cũng tìm được lối về. Hú hồn!

    Ngày 26 tháng 11 đánh dấu kỷ niệm một năm ngày cậu rời khỏi nhà; cậu viết cho cha mẹ:

    Mặc dầu tai con không giật giật, con đoan chắc là cha mẹ đang nói về con ngày hôm nay. Hai mươi sáu tháng 11 năm 1926! Đã một năm rồi! Thời gian trôi nhanh quá! Con nhớ từng chi tiết nhỏ nhất của ngày đó như mới chỉ xảy hôm qua. Một ngày thứ sáu nhiều mây, nhưng không mưa, con dậy vào sáng sớm, trong thánh lễ lúc 7 giờ sáng, chúng ta đã rước lễ, Mẹ và con, cử chí thân tình mà mẹ con cùng tái diễn sau thời gian nhiều tháng. Trở về nhà, đầu óc con rối bời, trái tim se thắt. Ôi! Buổi sáng cuối cùng đó! Con cũng chẳng biết tương lai mình sẽ ra sao: con cảm nhận được phần nào đây có thể là một cuộc chia ly dài, và nếu có sự  tiếc nuối nào đến với con lúc đó, thì nó chắc hẳn đã bị dập tắt trong con bởi viễn cảnh của một chuyến hành trình tốt đẹp, của một cuộc sống lãng du và đầy mạo hiểm. Ở tuổi 20 mà!…Chúng ta cùng ngồi quanh chiếc bàn. Con nghe những lời dặn dò cuối cùng. Chuông đánh tám giờ, đó là khoảnh khắc chia ly… 8:45 sáng: tiếng còi tàu tàn nhẫn và tức thì, con có cảm giác rằng một cái gì đó bị vỡ …Cái bị vỡ chính là cuộc sống gia đình hạnh phúc bé nhỏ mà con đã trải qua. Từ nay, con sẽ bước vào giai đoạn thứ hai của cuộc đời, nhưng luôn luôn với một niềm tin canh cánh bên lòng và một niềm hy vọng mãnh liệt vào một ngày trở về không xa tràn đầy hạnh phúc.

    Tháng ngày trôi qua, vài bất trắc nghề nghiệp nho nhỏ đã cộng thêm vào nỗi buồn chia ly, nhưng tính tình con vẫn không thay đổi. Trường đời lớn lao trong đơn vị quân đội là nơi giúp con vững bước trên con đường tốt đẹp mà con đã và đang đi.

    Chúng ta sẽ làm gì sau khi con trở về? Chúng ta sẽ bàn chuyện đó khi gặp lại…. Như thế sẽ tiện hơn. Tương lai không thuộc về chúng ta, nhưng ai cấm chúng ta nghĩ đến nó với lòng tự tin và ước mơ nó sẽ tràn đầy hạnh phúc... tại sao không ?

    Nếu chúng ta có thể đoán rằng có một vài dự tính tương lai tiềm ẩn sau lá thư này thì lá thư ngày 12 tháng chạp tiết lộ chúng, dưới một hình thức bất ngờ: một mặt, cậu nộp đơn thi chứng chỉ tiểu đội trưởng, với hy vọng trở thành sĩ quan dự bị; cậu biết rằng cậu sẽ phải bỏ ra nhiều thời gian học và thực tập hàng năm, nhưng tham vọng vẫn là tham vọng, và cậu thấy bình thường khi cần hy sinh thời gian cho quê hương. Mặt khác, - khá ngạc nhiên! – cậu tiết lộ rằng muốn trở nên giàu có, thậm chí rất giàu, để có thể bố thí bằng cả hai tay mà không cần đếm.

    “Vâng, đó sẽ là một thỏa mãn to lớn đối với con khi con có thể cho những người đến xin và thậm chí cả những người không xin. Con không nói những điều này để phô trương hoặc khoe khoang bởi vì con luôn muốn mình là một nhà tài trợ ẩn danh. Và chính vì mục đích này mà con sẽ làm việc để làm giàu.

    Cha mẹ đang cười à? Vâng, đúng vậy, đó là tham vọng của tất cả những người trẻ tuổi và bao nhiêu người đã thất vọng! Nhưng phương châm của con sẽ là: "Tại sao không? " Và con còn có một vài suy nghĩ sau: "Thất bại chỉ đến với những kẻ tin rằng thất bại là khả thi "----" Thành công luôn là kết quả của may mắn cộng với kiến thức có được và nghị lực”. Con sẽ bước vào đời với tất cả sự nhiệt tình và niềm tin lớn lao vào thành công. Và con chắc chắn sẽ thành công! "Tại sao không?"

    Trở về Pháp

    Cuối cùng, được giải ngũ, ngày mà cậu chờ đợi đã lâu! Nhưng Paul cũng không khỏi bùi ngùi trong tim khi rời Maroc, nơi cậu đã ở hơn một năm. Tuy không thiếu những thử thách, và những khó khăn, Paul đã khám phá ra một đất nước khác xa với quê hương Normandie, với những phong cảnh kỳ vĩ, những đêm đầy sao làm cậu mơ về Đấng Tạo Hóa, mơ về nơi vô tận mà ở đó ta sẽ được chiêm ngưỡng đời đời.

    Vào tháng 3 năm 1928, sau khi đi qua thành phố Meknes và Rabat, cậu đến Casablanca để lên tàu,trực chỉ Bordeaux; cuộc hành trình này yên tĩnh hơn khi đi; cậu trờ về lại đất Pháp với cảm xúc mạnh và niềm vui gặp lại gia đình, ai cũng ngưỡng mộ đứa con, lộng lẫy trong bộ đồng phục hạ sĩ quan ngành Binh vận mà cậu đã sắm truớc khi rời Fès. Mọi người tranh nhau hỏi cậu đủ điều nhưng không ai có giờ nghe câu trả lời. Nhiều tuần nghỉ ngơi cũng chẳng quá nhiều để thưởng thức những câu chuyện "chiến dịch" của chàng sĩ quan dự bị, hớn hở, đôi vai nở nang, lý luận vững chãi .

    Về phía mình, cậu nhận thấy cha mẹ đã già đi nhiều. Ông bà đang nghĩ đến việc giảm bớt công việcvà bắt đầu về hưu nửa mùa. Để tiến hành, họ đã rao bán khu vườn Cagna thân yêu, mà Paul đã gắn bó, và muốn tậu một căn nhà dễ thương ở Criquetot - l'Esneval, thị trấn thuộc hạt Caux, cách Le Havre ba mươi lăm cây số về phía bắc, không xa khu vách đá Étretat. Bà chủ nhà, 75 tuổi, muốn bán trả góp cho đến khi bà chết --- cách mua bán này phù hợp với gia đình nhà Seitz, luôn không một xu dính túi; và họ ký hợp đồng dù không có gì gấp. Và bà chủ tế nhị đã không chờ quá sáu tháng để ra đi rời bỏ thế gian, nên gia đình Seitz kết cục chưa phải trả góp đồng nào cả, và họ có thể sắp xếp dọn đến sớm..

    Căn nhà này rộng rãi và thoải mái hơn nhiều so với nơi cũ, ở số 11, đường La République ở Le Havre, đối diện nhà ga: Ông Seitz có thể mở tiệm tóc nhỏ ở tầng trệt, và sẽ một mình tiếp khách. Vì vậy, bớt phải lo lắng về nhân sự, dụng cụ và bảo quản. Gia đình sẽ có chổ ở rộng rãi hơn và mỗi người sẽ có phòng riêng của mình; và họ có thể nghĩ đến việc đón các cháu về chơi nữa. Thật là một viễn cảnh thú vị! Năm 1930, họ dọn nhà đến nơi mới nầy.

    Hiện tại, Paul có vẻ rảnh rỗi. Buổi sáng cậu đi dạo, dường như vẫn quan tâm đến mấy tờ báo nông nghiệp và bắt đầu tiếp xúc trở lại với nghề nông; mỗi buổi tối, cậu kể lại cuộc sống của mình ở Maroc, nhắc đến Lyautey, Charles de Foucauld, Ernest Psichari. Cậu đi thăm ông bà ngoại Dufau, các dì và anh em họ ở Saint-Germain en Laye và cậu ở lại Paris thời gian lâu, mà không ai hiểu tại sao. Nhưng về tương lai của cậu, không một lần hé môi. Thậm chí cậu càng ngày càng trở nên ít nói và hay suy tưhơn. Mọi người ngạc nhiên. Cha cậu lo lắng.

    Cuối cùng vào một ngày kia, khi cha mẹ và Annette tra vấn cậu, Paul lấy một tài liệu trong túi ra: trên trang bìa, đăng hình ảnh của một cơ sở lớn: Chủng viện Hội Thừa Sai Paris. "Đây là nơi con muốn đi đến," cậu trả lời đơn giản, Chúa gọi con: con sẽ trở thành nhà truyền giáo."

    Cậu vừa nói xong, một sự im lặng nặng nề đè xuống: nay thì mọi sự đã rõ ràng. Sự xúc động lớn đến nỗi phải mất một thời gian để chính Paul lấy lại tinh thần và giải thích lý do cũng như một số chi tiết về những thủ tục mà cậu đã kín đáo làm, những cuộc gặp gỡ với vị bề trên ngôi nhà ở đường Bac, Paris, và các ngài đã chấp nhận ơn gọi của cậu, sẵn sàng nhận cậu vào.

    Mọi người không ai kìm được tiếng khóc nức nở. Ông Seitz, người mà đức tin và việc giữ đạo đã ngủ sâu trong tim cảm nhận giờ nó đập lạ thường. Còn vợ ông, bà vô cùng xúc động, vừa vui vừa lo, và bà chỉ có thể im lặng ôm con trai vào lòng. Đến tối, bà viết vào nhật ký: "Con con ra đi vừa trở về. Hạnh phúc mà trái tim yếu đuối của con chờ đợi, nhưng một nỗi đau mới lại đến: một nỗi đau như xé nát tâm can con nhưng con thấy như một tia sáng: Chúa muốn gọi con con! Thưa Ngài phải vậykhông?"

    Về phần Annette, sau này cô thừa nhận rằng mình đã khóc bốn ngày và bốn đêm, cô hài hước tâmsự:

    “Sau khi khóc hết nước mắt, đầu óc tôi sáng ra: lý luận đơn giản: giống như trước khi làm thuyền trưởng, phải là một thủy thủ, trước khi là một nhà truyền giáo, phải là một chủng sinh, phải ngấu nghiến tiếng Latin; phải cật lực trong nhiều năm, hình như sáu năm … và vì thế chị đang đợi em ở đó, em trai à. Cho đến bấy giờ, đứa em chị đã không đưa ra bằng chứng là loại thể thao này phù hợp với , phải không? Nói thật ra, tôi dựa vào một quá khứ dường như không thể đảo ngược với tôi: tôi tự nhủ, coi kìa, em tôi có đi đâu đâu; tôi tự an ủi: ngày mai đâu phải là hôm nay! Ai sống sẽ thấy.

    Và thức sự tôi đã thấy ... và em tôi đã cho tôi ăn bánh vẽ một cách ngoạn mục! Chín năm sau, ở tuổi 31, vào năm 1937, em tôi trở thành linh mục và được sai đi Hà Nội, tại xứ Bắc Kỳ, Đông Dương thuộc Pháp cũ, nơi mà em sẽ làm việc trong vòng ba mươi tám năm!”

    Và đối với người em mà bà chị luôn yêu quý suốt cuộc đời y tá độc thân của mình, chị đã tổng kết sự nghiệp mà người em miệt mài theo đuổi, như sau: 

    “Đầu tiên em học tiếng Việt, chuyện không dễ! Sau đó liên tiếp và đôi khi cùng lúc --- như được kể lại trong nhiều lá thư  --- em là tuyên úy không những của các hội đoàn thanh niên, mà còn của trường học, nhà tù và quân đội; làm cha xứ nhà thờ chính tòa Hà Nội, nhà sáng lập Trung tâm thiếu nhi bị bỏ rơi; bề trên vùng của Hội Thừa Sai Paris ở Việt Nam; cuối cùng, trong hai mươi ba năm, từ 1952 đến 1975, Giám mục Giáo phận Kontum, trên Tây Nguyên miền Trung Việt Nam…Và còn bao nhiêu chức vụ khác mà tôi không nêu lên ở đây!

    Thật đúng là hai anh em trai của tôi không khác nhau lắm, tuy mỗi người đi theo mỗi con đường khác nhau!

    Bây giờ, vào ngày 16 tháng 8 năm 1975, tôi thấy em quay trở về – lần này, không làm tôi khóc, mà ngược lại ---- bị trục xuất bởi những người Cộng sản, nay làm chủ toàn bộ bán đảo Đông Dương, trắng tay, chẳng tý ty hành lý, bận chiếc áo chùng thâm Việt Nam, chân trần không vớ trong đôi sandal, gầy gò hốc hác, buồn vời vợi, nhưng vẫn luôn luôn đứng thẳng, vớí tinh thần truyền giáo mạnh mẽ hơn bao giờ hết, như được thấy qua các hoạt động của ngài ở Pháp.

    Bây giờ quyết định đã có, không còn lý do nào để dời lại ngày đi, mặc dầu Paul phải đau lòng xa lìa gia đình một lần nữa. Cậu lại thu xếp hành lý và, trong những ngày đầu của tháng 5 năm 1928, cậu lên tàu đến Paris, cùng với mẹ, người không cưỡng được ý muốn nhìn thấy ngôi nhà con mình sẽ ở, và ôm hôn con một lần nữa trước khi cánh cửa đóng lại sau lưng con.

    Chúng ta tìm được trong nhật ký của bà 4 câu thơ mà bà đã sáng tác như sau:

“Để trở thành môn đệ, Thầy đã chọn con.

Vĩnh biệt con, con m! Mẹ luôn hy vọng và vững niềm tin

Hợp nhất với tình ái thiêng liêng soi dẫn,

Ngọn đuốc sáng ngời đang rọi trước mắt con.”

     Sau này, Đức Giám mục Seitz có lần tâm sự: “ Ơn gọi linh mục luôn cắm rễ sâu trong lòng của một người mẹ thánh thiện." Và, với tình yêu dành cho mẹ, Ngài luôn cẩn thận giữ cuốn sách lễ quý giá, sờn rách vì được dùng quá nhiều, của người Mẹ kính yêu.

 

[i] “Cagna” từ nhà binh có nghĩa nơi trú ẩn trong chiến hào